Bẫy thu nhập trung bình là tình trạng một nền kinh tế đã thoát nghèo, lên được mức thu nhập trung bình, rồi tăng trưởng chậm hẳn lại và mắc kẹt ở đó hàng chục năm mà không chạm tới ngưỡng thu nhập cao. Lý do thường được nêu: những thứ từng đẩy tăng trưởng (lao động rẻ dồn từ nông thôn ra nhà máy, vốn đầu tư dồn vào máy móc, công nghệ đi mua sẵn) cạn dần, trong khi năng lực mới (đổi mới sáng tạo, kỹ năng cao, thể chế thị trường sâu) chưa kịp hình thành.
Cần nói ngay một điều mà nhiều bài phổ thông bỏ qua: giới nghiên cứu chưa thống nhất rằng có một "cái bẫy" đặc thù ở mức thu nhập trung bình. Bằng chứng mạnh nhất cho thấy tăng trưởng nhanh thường chững lại khi thu nhập tăng lên, và rất ít nền kinh tế đi hết quãng đường lên thu nhập cao. Nhưng việc nền kinh tế trung bình có xác suất "kẹt" cao bất thường so với nền kinh tế nghèo hay không thì còn tranh luận.
Bài này đi qua nguồn gốc khái niệm, cơ chế kinh tế phía sau, những gì dữ liệu thật sự cho thấy, và một khung câu hỏi để người làm chính sách hay quản trị doanh nghiệp tự đánh giá vị trí của Việt Nam.
Khái niệm ra đời từ đâu và được đo thế nào
Cụm từ "middle-income trap" xuất hiện trong báo cáo An East Asian Renaissance của Ngân hàng Thế giới năm 2007, do Indermit Gill và Homi Kharas chủ biên. Hai tác giả quan sát rằng nhiều nền kinh tế Mỹ Latinh và Trung Đông đã đạt thu nhập trung bình từ giữa thế kỷ 20 nhưng không tiến tiếp, và cảnh báo các nước Đông Á đang lên có thể đi vào cùng lối mòn. Từ đó, khái niệm lan nhanh vào văn kiện chính sách ở Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam.
Có hai cách định nghĩa chính. Cách tuyệt đối dựa trên bảng phân loại thu nhập của Ngân hàng Thế giới: các nước được xếp vào thu nhập thấp, trung bình thấp, trung bình cao và cao theo tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người, tính bằng đô la Mỹ theo phương pháp Atlas, các ngưỡng được điều chỉnh mỗi năm. Ngưỡng thu nhập cao những năm gần đây ở quanh mức 14.000 USD. Một số nghiên cứu, như của Felipe, Abdon và Kumar tại Ngân hàng Phát triển châu Á năm 2012, định nghĩa "bị kẹt" là ở lại một nhóm lâu hơn số năm trung vị mà các nước đi trước đã cần, khoảng vài chục năm cho nhóm trung bình thấp và khoảng mười mấy năm cho nhóm trung bình cao.
Cách tương đối so thu nhập một nước với nước dẫn đầu, thường là Mỹ: một nền kinh tế được coi là kẹt nếu tỷ lệ thu nhập bình quân so với Mỹ đứng yên trong một khoảng kéo dài. Cách này hợp lý hơn về mặt lý thuyết, vì câu hỏi thật là "có đuổi kịp hay không", chứ không phải "có vượt một con số danh nghĩa hay không". Chọn định nghĩa nào sẽ cho ra danh sách nước "bị kẹt" khác nhau, và đây là gốc của nhiều tranh cãi về sau.
Cơ chế: vì sao động cơ tăng trưởng cũ tắt dần
Hết lao động dư thừa. Ở giai đoạn đầu, một nước nghèo tăng trưởng nhanh nhờ chuyển người từ nông nghiệp năng suất thấp sang công nghiệp năng suất cao hơn. Đây là cơ chế W. Arthur Lewis mô tả năm 1954. Khi lượng lao động dư ở nông thôn cạn, tiền lương công nghiệp bắt đầu tăng, và lợi thế giá nhân công rẻ biến mất dần.
Lợi suất giảm dần của vốn. Tích luỹ máy móc, nhà xưởng, hạ tầng đem lại tăng trưởng lớn khi vốn còn khan hiếm. Theo logic của mô hình Solow, mỗi đơn vị vốn thêm vào đem lại ít sản lượng hơn đơn vị trước. Muốn duy trì tốc độ, nền kinh tế phải tăng năng suất tổng hợp, tức làm ra nhiều hơn từ cùng lượng đầu vào.
Khoảng cách công nghệ thu hẹp. Đi sau có lợi: có thể mua, bắt chước, học công nghệ đã được kiểm chứng với chi phí thấp. Càng tiến gần biên công nghệ thế giới, càng ít thứ để bắt chước, và tăng trưởng phải đến từ tự cải tiến. Acemoglu, Aghion và Zilibotti (2006) lập luận rằng thể chế phù hợp cho giai đoạn bắt chước (doanh nghiệp lớn, quan hệ lâu dài, vốn dồn theo chỉ đạo) có thể trở thành vật cản ở giai đoạn đổi mới, nơi cần chọn lọc cạnh tranh và cho doanh nghiệp kém rút lui.
Bị kẹp giữa hai nhóm. Nền kinh tế trung bình không còn rẻ bằng các nước nghèo hơn để giành đơn hàng gia công, nhưng chưa đủ năng lực công nghệ và thương hiệu để cạnh tranh với các nước giàu. Ngành nào cũng thấy mình "ở giữa": biên lợi nhuận mỏng, khó nâng cấp.
Chuyển đổi đòi hỏi những thứ khó mua. Giai đoạn sau cần giáo dục chất lượng thật chứ không chỉ số năm đi học, hệ thống tài chính biết đánh giá dự án rủi ro, thị trường đất đai và lao động linh hoạt, toà án thực thi hợp đồng đáng tin. Những thứ này không nhập khẩu được như máy móc, và xây mất hàng thập kỷ.
Bằng chứng thực nghiệm: cái bẫy có thật không
Ít nước đi hết quãng đường. Báo cáo China 2030 (Ngân hàng Thế giới và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc, 2013) đưa ra con số được trích rất nhiều: trong 101 nền kinh tế thu nhập trung bình năm 1960, chỉ 13 nền kinh tế lên được thu nhập cao vào năm 2008. Nhóm này gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, một số nước Nam Âu, Ireland, Israel, Mauritius và vài trường hợp đặc biệt.
Chững lại là hiện tượng phổ biến. Eichengreen, Park và Shin trong hai bài 2012 và 2013 phân tích các giai đoạn tăng trưởng nhanh rồi giảm tốc đột ngột. Họ thấy việc giảm tốc tập trung ở một số vùng thu nhập nhất định chứ không phải một ngưỡng duy nhất, và nước có tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao, lực lượng lao động có học vấn trung học và đại học cao hơn thì ít bị giảm tốc hơn.
Nhưng bẫy "đặc thù" thì còn tranh luận. Một số nghiên cứu, như của Im và Rosenblatt tại Ngân hàng Thế giới (2013), so xác suất chuyển nhóm thu nhập và không thấy nước thu nhập trung bình có xác suất đứng yên cao bất thường so với nước thu nhập thấp. Nói cách khác, khó đi lên ở mọi tầng, không riêng tầng giữa.
Tăng trưởng nhanh vốn khó kéo dài. Pritchett và Summers trong bài Asiaphoria Meets Regression to the Mean (2014) chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng của một nước trong thập kỷ này dự báo rất kém tốc độ thập kỷ sau. Các giai đoạn bùng tăng thường quay về mức trung bình thế giới. Hệ quả: đừng ngoại suy tăng trưởng 6 hay 7% thêm ba mươi năm.
Kết luận thận trọng. Bằng chứng mạnh ủng hộ hai điều: hội tụ lên thu nhập cao là ngoại lệ chứ không phải quy luật, và chuyển từ tăng trưởng dựa vào tích luỹ sang tăng trưởng dựa vào năng suất là chỗ nhiều nước vấp. "Bẫy" nên hiểu như một ẩn dụ chính sách hữu ích hơn là một trạng thái cân bằng được chứng minh chặt chẽ.
Nước thoát và nước chững lại khác nhau ở đâu
Bảng dưới tổng hợp các khác biệt mà văn liệu thường nêu khi so nhóm Đông Á đã lên thu nhập cao với các nền kinh tế Mỹ Latinh và Đông Nam Á tăng trưởng chậm lại. Đây là xu hướng chung, mỗi nước có ngoại lệ riêng.
| Khía cạnh | Nhóm thoát được (Hàn Quốc, Đài Loan) | Nhóm chững lại (điển hình nhiều nước Mỹ Latinh, một phần Đông Nam Á) |
|---|---|---|
| Chi nghiên cứu và phát triển | Tăng mạnh, phần lớn do doanh nghiệp chi | Thấp, chủ yếu từ ngân sách hoặc doanh nghiệp nước ngoài |
| Giáo dục | Phổ cập trung học sớm, chú trọng kỹ thuật và chất lượng | Mở rộng số năm học nhưng chất lượng và kỹ năng thấp hơn |
| Cơ cấu xuất khẩu | Dịch dần lên điện tử, máy móc, thương hiệu nội địa | Phụ thuộc hàng thô hoặc gia công khâu thấp |
| Doanh nghiệp nội địa | Có tập đoàn tư nhân đủ sức cạnh tranh quốc tế | Ít doanh nghiệp nội địa lớn ngoài lĩnh vực tài nguyên, bán lẻ |
| Bất bình đẳng ban đầu | Tương đối thấp nhờ cải cách ruộng đất | Cao, đất đai và vốn tập trung |
| Ổn định vĩ mô | Có khủng hoảng nhưng phục hồi nhanh | Lạm phát cao, khủng hoảng nợ lặp lại |
Điểm cần đọc kỹ là cột thứ hai không mô tả một "công thức". Hàn Quốc và Đài Loan có điều kiện lịch sử riêng (viện trợ, cải cách ruộng đất, bối cảnh địa chính trị thời Chiến tranh Lạnh). Bài học chuyển giao được nằm ở cơ chế: áp lực cạnh tranh xuất khẩu buộc doanh nghiệp học, và nhà nước rút dần hỗ trợ với doanh nghiệp không đạt chuẩn.
Chiến lược 3i: đầu tư, tiếp thu, đổi mới
Báo cáo Phát triển Thế giới 2024 của Ngân hàng Thế giới lấy chính chủ đề bẫy thu nhập trung bình và đề xuất một trình tự gọi là 3i. Ở giai đoạn thu nhập thấp, trọng tâm là investment, tức đầu tư vào vốn vật chất và hạ tầng. Khi lên trung bình thấp, cần thêm infusion, nghĩa là chủ động hấp thụ công nghệ và cách làm từ nước ngoài: mua bản quyền, thu hút đầu tư trực tiếp có chuyển giao, đưa kỹ sư đi học. Ở trung bình cao, trụ thứ ba là innovation, tự tạo ra công nghệ và sản phẩm mới.
Ý tưởng cốt lõi của báo cáo là các nước thường mắc lỗi trình tự: hoặc cứ đầu tư vốn mãi khi lợi suất đã giảm, hoặc nhảy thẳng vào "đổi mới sáng tạo" bằng các khu công nghệ cao và quỹ khởi nghiệp trong khi doanh nghiệp còn chưa đủ năng lực tiếp thu công nghệ có sẵn. Báo cáo cũng nhấn mạnh việc cân bằng giữa lực lượng tạo mới (doanh nghiệp mới, công nghệ mới), lực lượng bảo tồn (doanh nghiệp lớn đương nhiệm, nhóm lợi ích muốn giữ vị thế) và quá trình đào thải doanh nghiệp yếu.
Với nhà quản lý, khung 3i có một hàm ý thực tế: câu hỏi "doanh nghiệp mình đang ở giai đoạn nào" quan trọng hơn khẩu hiệu. Một nhà máy linh kiện Việt Nam chưa đạt chuẩn chất lượng của khách hàng nước ngoài thì ưu tiên là tiếp thu quy trình, chuẩn hoá, đào tạo kỹ thuật viên, chứ chưa phải lập phòng nghiên cứu cơ bản.
Khung tự kiểm cho Việt Nam: sáu câu hỏi cần theo dõi
Theo phân loại của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp từ khoảng năm 2010, và thu nhập bình quân hiện vẫn cách khá xa ngưỡng thu nhập cao. Thay vì dự báo một năm cụ thể, có thể theo dõi các chỉ báo sau, đều có số liệu công bố định kỳ từ Tổng cục Thống kê (nay là Cục Thống kê) và các tổ chức quốc tế.
- Năng suất lao động tăng nhờ đâu? Tách phần do chuyển dịch lao động giữa ngành và phần tăng trong nội bộ từng ngành. Nếu phần lớn đến từ dịch chuyển, động cơ này sẽ yếu dần khi lao động nông nghiệp giảm.
- Doanh nghiệp nội địa có vào được chuỗi cung ứng của khối đầu tư nước ngoài không? Tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong xuất khẩu đáng xem hơn tổng kim ngạch.
- Chất lượng học tập, không chỉ số năm đi học. Kỹ năng thực của lao động trẻ, tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ.
- Chi nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp so với GDP, và tỷ trọng do khu vực tư nhân chi.
- Tốc độ già hoá dân số. Việt Nam có nguy cơ "già trước khi giàu": tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh khi thu nhập còn trung bình, làm thu hẹp thời gian tận dụng cơ cấu dân số vàng.
- Chất lượng phân bổ vốn. Tín dụng có chảy về doanh nghiệp năng suất cao hay dồn vào bất động sản và doanh nghiệp quen biết.
Không chỉ báo nào tự nó quyết định. Điểm cảnh báo là khi nhiều chỉ báo cùng chững: tăng trưởng vẫn dựa vào vốn và lao động, trong khi đóng góp của năng suất tổng hợp nhỏ dần.
Giới hạn của khái niệm và những cách dùng sai
Ngưỡng phân loại của Ngân hàng Thế giới là quy ước hành chính, ban đầu dùng để xếp điều kiện vay ưu đãi, không được thiết kế làm thước đo phát triển. Vì tính bằng đô la danh nghĩa theo phương pháp Atlas, chỉ số này chịu ảnh hưởng của tỷ giá: một đợt đồng nội tệ mất giá có thể kéo một nước xuống nhóm dưới dù đời sống không đổi nhiều. Vượt ngưỡng 14.000 USD không làm một nền kinh tế đổi bản chất trong một đêm.
Cách dùng sai phổ biến thứ nhất là biến "thoát bẫy" thành mục tiêu tốc độ, dẫn tới bơm tín dụng và đầu tư công để giữ tăng trưởng danh nghĩa cao, đúng thứ làm năng suất vốn giảm thêm. Cách dùng sai thứ hai là coi mọi khó khăn là "bẫy" có tính định mệnh, trong khi nhiều nước chững lại vì những lỗi chính sách cụ thể có thể sửa: lạm phát kéo dài, khủng hoảng nợ, bảo hộ ngành kém hiệu quả.
Giá trị thật của khái niệm là buộc người làm chính sách nhìn vào chất lượng tăng trưởng: tăng trưởng đến từ đâu, có bền không, ai hưởng lợi. Đọc bất kỳ phát biểu nào về bẫy thu nhập trung bình, bạn nên hỏi lại: định nghĩa theo cách nào, so với ai, dữ liệu năm nào, và cơ chế được giả định là gì.
Câu hỏi thường gặp
Bẫy thu nhập trung bình có áp dụng cho từng tỉnh hay doanh nghiệp không?
Khái niệm gốc dành cho cả nền kinh tế quốc gia. Áp cho một tỉnh hay một doanh nghiệp chỉ nên coi là ẩn dụ: logic chuyển từ cạnh tranh bằng chi phí thấp sang cạnh tranh bằng năng lực vẫn đúng, nhưng tỉnh không có chính sách tỷ giá, tiền tệ riêng, và lao động, vốn di chuyển tự do giữa các tỉnh, nên cơ chế "kẹt" khác hẳn cấp quốc gia.
Trung Quốc đã thoát bẫy thu nhập trung bình chưa?
Theo phân loại của Ngân hàng Thế giới, Trung Quốc ở nhóm trung bình cao và thu nhập bình quân đã tiến sát ngưỡng thu nhập cao trong vài năm gần đây. Việc vượt ngưỡng phụ thuộc cả tăng trưởng thực lẫn tỷ giá. Các nhà kinh tế tranh luận nhiều về khả năng duy trì năng suất khi dân số già nhanh và nợ địa phương cao; chưa có kết luận thống nhất.
Tại sao nhiều nước Mỹ Latinh thu nhập trung bình từ rất sớm mà không lên được?
Văn liệu nêu nhiều nguyên nhân chồng nhau: chiến lược thay thế nhập khẩu kéo dài làm doanh nghiệp thiếu áp lực cạnh tranh, phụ thuộc hàng hoá thô với giá biến động, lạm phát và khủng hoảng nợ lặp lại, bất bình đẳng cao làm giáo dục đại trà chậm. Mỗi nước có tổ hợp riêng, không nên quy về một nguyên nhân duy nhất.
Ngưỡng thu nhập cao có thay đổi theo thời gian không?
Có. Ngân hàng Thế giới cập nhật các ngưỡng vào tháng 7 hằng năm, điều chỉnh theo lạm phát của một nhóm đồng tiền lớn. Vì vậy mục tiêu kiểu "đạt 14.000 USD" sẽ thành con số khác sau mười hay hai mươi năm. Khi so sánh dài hạn, nên dùng thu nhập so với Mỹ hoặc thu nhập theo sức mua tương đương để tránh nhiễu tỷ giá và lạm phát.
Dân số già hoá ảnh hưởng thế nào tới khả năng thoát bẫy?
Già hoá làm lực lượng lao động co lại và tỷ lệ tiết kiệm có thể giảm, tức cả hai động cơ tích luỹ cùng yếu đi. Nhật Bản và Hàn Quốc già hoá khi đã giàu; nhiều nền kinh tế đang phát triển già hoá ở mức thu nhập thấp hơn nhiều. Khi đó, tăng năng suất trên mỗi lao động trở thành con đường gần như duy nhất để thu nhập tiếp tục tăng.
Có chỉ số đơn giản nào để biết một nước đang kẹt không?
Không có chỉ số duy nhất được chấp nhận. Cách thường dùng là theo dõi thu nhập bình quân so với Mỹ trong mười đến hai mươi năm: nếu tỷ lệ này đi ngang trong khi nước đó vẫn ở nhóm trung bình, đó là dấu hiệu chững. Kết hợp thêm phân rã tăng trưởng để xem đóng góp của năng suất tổng hợp đang tăng hay giảm.