Trì hoãn là việc tự nguyện dời lại một việc đã định làm, dù biết việc dời lại có thể khiến tình hình tệ hơn. Định nghĩa này, theo nhà tâm lý học Piers Steel, tách trì hoãn khỏi việc hoãn có chủ đích hợp lý (đợi thêm thông tin) và khỏi đơn giản là bận. Cái làm trì hoãn thành vấn đề là sự mâu thuẫn: ta biết mà vẫn làm.
Nghiên cứu hiện nay giải thích trì hoãn qua hai cơ chế bổ sung nhau. Thứ nhất, con người chiết khấu mạnh phần thưởng ở xa, nên lợi ích của việc làm sớm có vẻ nhỏ hơn cái khó chịu trước mắt. Thứ hai, trì hoãn là một cách sửa tâm trạng ngắn hạn: né một việc gây chán, lo âu hay nghi ngờ bản thân giúp dễ chịu ngay, cái giá trả sau.
Hiểu như vậy, trì hoãn không phải lỗi tính cách "lười". Phần dưới trình bày các bằng chứng, các hiểu lầm hay gặp và những biện pháp được thử nghiệm.
Phân tích tổng hợp của Steel và lý thuyết động lực thời gian
Năm 2007, Piers Steel công bố trên Psychological Bulletin một phân tích tổng hợp lớn về trì hoãn, tổng hợp hàng trăm nghiên cứu. Các yếu tố liên quan mạnh nhất gồm tính chán ghét của nhiệm vụ, khoảng cách thời gian tới phần thưởng, tính bốc đồng, mức tự tin thấp vào khả năng làm được việc, và tính tận tâm thấp. Ngược lại, chủ nghĩa hoàn hảo, thứ thường bị coi là nguyên nhân chính, có liên hệ yếu và không nhất quán.
Từ đó, Steel cùng Cornelius König đề xuất lý thuyết động lực thời gian, tóm gọn thành một biểu thức: động lực làm một việc tỷ lệ thuận với kỳ vọng thành công nhân giá trị của việc, chia cho mức bốc đồng nhân khoảng thời gian tới khi nhận kết quả. Biểu thức không nhằm tính ra con số chính xác mà chỉ ra bốn đòn bẩy: tăng kỳ vọng, tăng giá trị cảm nhận, giảm độ nhạy với xao nhãng, rút ngắn khoảng chờ phần thưởng.
Mẫu số "thời gian" có nền tảng trong kinh tế học hành vi. George Ainslie, rồi George Akerlof (1991) và David Laibson (1997) mô hình hoá chiết khấu hyperbol: giá trị của phần thưởng giảm rất nhanh khi lùi từ hiện tại sang tương lai gần, chậm hơn khi đã ở xa. Hệ quả là sở thích không nhất quán theo thời gian: hôm nay ta chân thành định mai làm, nhưng tới mai, cái lợi trước mắt của việc dời lại lại thắng.
Trì hoãn như một chiến lược điều chỉnh cảm xúc
Timothy Pychyl và Fuschia Sirois (2013) đề xuất nhìn trì hoãn như ưu tiên sửa tâm trạng ngắn hạn hơn mục tiêu dài hạn. Khi đối diện việc gây khó chịu như viết chương tổng quan luận văn hay gọi cho khách hàng khó tính, cảm xúc tiêu cực tăng lên. Chuyển sang dọn bàn, đọc tin tức hay trả lời thư làm cảm xúc dịu ngay, và não học được rằng né tránh mang lại phần thưởng. Chu kỳ này tự củng cố.
Mô hình này giải thích một quan sát quen thuộc: người trì hoãn thường không hề thảnh thơi. Nghiên cứu của Dianne Tice và Roy Baumeister năm 1997 theo dõi sinh viên trong một học kỳ: những người trì hoãn nhiều ít căng thẳng hơn lúc đầu kỳ, nhưng tới cuối kỳ căng thẳng và triệu chứng bệnh nhiều hơn, điểm bài tập thấp hơn. Cái lợi ngắn hạn không bù được cái giá về sau.
Một nghiên cứu thường được trích là của Michael Wohl, Pychyl và Shannon Bennett (2010): sinh viên càng tự tha thứ cho việc trì hoãn ôn thi giữa kỳ thì càng ít trì hoãn khi ôn kỳ thi tiếp theo. Cơ chế được đề xuất là tự trách làm tăng cảm xúc tiêu cực gắn với nhiệm vụ, khiến lần sau càng muốn né. Đây là nghiên cứu tương quan một mẫu sinh viên; nó gợi ý, chưa chứng minh, rằng tự phê phán gay gắt có thể phản tác dụng.
Ai dễ trì hoãn hơn: tính cách, di truyền và đặc điểm nhiệm vụ
Trì hoãn vừa là đặc điểm tương đối ổn định của người, vừa thay đổi mạnh theo nhiệm vụ. Ở phía con người, phân tích của Steel cho thấy tính tận tâm thấp và tính bốc đồng cao là hai yếu tố liên quan nhất quán nhất. Các nhà nghiên cứu đo trì hoãn bằng thang tự báo cáo, như thang của Clarry Lay (1986) hay thang "trì hoãn thuần" do Steel phát triển sau này, hỏi về việc thường xuyên dời việc dù biết sẽ bất lợi.
Nghiên cứu song sinh của Daniel Gustavson, Akira Miyake và cộng sự (2014) trên Psychological Science ước tính khoảng một nửa khác biệt về xu hướng trì hoãn giữa các cá nhân có liên quan đến di truyền, và thành phần di truyền này gần như trùng với thành phần di truyền của tính bốc đồng. Các tác giả diễn giải rằng trì hoãn có thể là "sản phẩm phụ" của bốc đồng: người dễ bị kéo theo cám dỗ trước mắt cũng dễ để mục tiêu xa bị lấn át. Cần nhớ "có liên quan đến di truyền" nói về khác biệt trong một quần thể, không có nghĩa từng người không thay đổi được.
Ở phía nhiệm vụ, những đặc điểm làm tăng trì hoãn khá dễ nhận ra: nhàm chán, mơ hồ về cách bắt đầu, không có cấu trúc, phần thưởng ở xa, và gắn với nỗi lo bị đánh giá. Đây là tin tốt, vì đặc điểm nhiệm vụ thay đổi được dễ hơn tính cách. Phần lớn biện pháp hiệu quả ở mục sau tác động vào chính các đặc điểm này.
Hiểu lầm phổ biến về trì hoãn
Nhiều lời khuyên chống trì hoãn dựa trên chẩn đoán sai nguyên nhân, nên dù làm theo vẫn không hiệu quả.
| Hiểu lầm | Điều bằng chứng cho thấy |
|---|---|
| Người trì hoãn là người lười | Lười là không muốn làm; người trì hoãn thường muốn làm và cảm thấy tội lỗi khi không làm. Vấn đề nằm ở điều chỉnh cảm xúc và tự kiểm soát |
| Trì hoãn là do quản lý thời gian kém | Một phần người trì hoãn biết rõ lịch và hạn chót. Công cụ quản lý thời gian ít tác dụng nếu không xử lý cảm xúc gắn với nhiệm vụ |
| Người cầu toàn hay trì hoãn nhất | Phân tích của Steel cho thấy liên hệ giữa chủ nghĩa hoàn hảo nói chung và trì hoãn rất yếu; một số khía cạnh như lo sợ đánh giá có liên quan hơn |
| Làm dưới áp lực hạn chót cho kết quả tốt hơn | Một số người cảm thấy vậy, nhưng nghiên cứu theo dõi như của Tice và Baumeister cho thấy kết quả trung bình thấp hơn và căng thẳng cao hơn |
| Chỉ cần quyết tâm hơn | Quyết tâm không thay đổi chiết khấu thời gian hay cảm xúc khi đối mặt nhiệm vụ. Thay đổi cấu trúc tình huống hiệu quả hơn |
Steel ước tính trong phân tích của mình rằng phần lớn sinh viên đại học tự nhận có trì hoãn, và một tỷ lệ đáng kể người trưởng thành coi đó là vấn đề mạn tính. Con số chính xác thay đổi theo cách hỏi, nhưng hiện tượng đủ phổ biến để coi là đặc điểm chung của con người, không phải khiếm khuyết của số ít.
Các biện pháp có bằng chứng
Ý định thực hiện (implementation intentions). Peter Gollwitzer đề xuất cấu trúc "nếu tình huống X xảy ra thì làm Y" thay vì mục tiêu chung. Phân tích tổng hợp của Gollwitzer và Paschal Sheeran năm 2006 trên khoảng chín mươi nghiên cứu cho cỡ hiệu ứng trung bình khoảng hai phần ba độ lệch chuẩn lên việc đạt mục tiêu. Ví dụ: "Sau khi ăn sáng thứ Hai, mình mở tệp đề cương và viết đúng một đoạn."
Hạn chót tự đặt và hạn chót chia nhỏ. Dan Ariely và Klaus Wertenbroch (2002) cho sinh viên tự đặt hạn nộp ba bài luận. Nhiều người chọn rải đều hạn, cho thấy họ biết mình sẽ trì hoãn. Nhóm tự đặt hạn làm tốt hơn nhóm chỉ có một hạn cuối, nhưng kém nhóm được giao hạn rải đều. Bài học: hạn chót trung gian có ích, và hạn do người khác đặt còn hiệu quả hơn hạn tự đặt.
Giảm khoảng cách tới phần thưởng. Ghép việc chán với thứ mình thích, chiến lược mà Katherine Milkman và cộng sự gọi là "gói cám dỗ" (temptation bundling), ví dụ chỉ nghe podcast yêu thích khi đi tập. Thí nghiệm ban đầu cho kết quả khả quan, nhưng một nghiên cứu quy mô lớn sau đó cho hiệu ứng nhỏ hơn và phai dần.
Bắt đầu thật nhỏ. Hạ thấp ngưỡng khởi động, chẳng hạn chỉ làm năm phút, giảm cảm xúc tiêu cực lúc bắt đầu. Đây là ứng dụng trực tiếp của mô hình điều chỉnh cảm xúc, dù bằng chứng thử nghiệm riêng cho kỹ thuật này ít hơn.
Can thiệp nhận thức hành vi. Một số thử nghiệm, kể cả chương trình qua mạng tại Thuỵ Điển của Alexander Rozental và cộng sự, cho thấy liệu pháp nhận thức hành vi giảm trì hoãn ở mức vừa phải. Đây là lựa chọn khi trì hoãn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến học tập, công việc.
Kế hoạch áp dụng cho một dự án dài
Ví dụ giả định: một học viên cao học ở Huế cần viết luận văn trong sáu tháng, đã trì hoãn chương tổng quan tài liệu ba tuần.
- Gọi tên cảm xúc gắn với nhiệm vụ. Ngại vì không biết bắt đầu từ đâu, hay sợ người hướng dẫn chê? Mỗi loại cần cách xử lý khác: thiếu cấu trúc thì cần dàn ý, sợ đánh giá thì cần nộp bản nháp sớm để giảm kỳ vọng.
- Chia thành đầu ra nhỏ, cụ thể: danh sách hai mươi tài liệu chính, bảng tổng hợp mười tài liệu đầu, dàn ý ba mục. Mỗi đầu ra làm trong một đến hai buổi.
- Viết ý định thực hiện cho từng đầu ra: thời điểm, địa điểm, hành động đầu tiên cụ thể.
- Tạo hạn chót bên ngoài: hẹn người hướng dẫn hoặc bạn cùng nhóm xem bản nháp vào ngày cố định mỗi hai tuần.
- Bớt cám dỗ trong môi trường: làm ở thư viện, để điện thoại trong túi, dùng công cụ chặn trang trong khối giờ viết.
- Khi lỡ trì hoãn, ghi nhận rồi quay lại thay vì tự trách kéo dài; xem lại kế hoạch xem bước nào quá lớn để chia nhỏ thêm.
Kế hoạch này kết hợp nhiều đòn bẩy cùng lúc: giảm cảm xúc tiêu cực, rút ngắn khoảng chờ phần thưởng, thêm cam kết bên ngoài. Bằng chứng riêng cho từng biện pháp ở mức khác nhau, nhưng chúng không loại trừ nhau.
Câu hỏi thường gặp
Trì hoãn có liên quan đến rối loạn tăng động giảm chú ý không?
Trì hoãn nghiêm trọng, kéo dài từ nhỏ, kèm khó tập trung và bốc đồng ở nhiều bối cảnh có thể là một biểu hiện của rối loạn tăng động giảm chú ý ở người lớn. Tuy vậy, trì hoãn rất phổ biến ở người không có rối loạn này. Việc đánh giá phải do bác sĩ chuyên khoa thực hiện, không tự kết luận qua danh sách triệu chứng trên mạng.
Trì hoãn có phải lúc nào cũng xấu?
Một số nhà nghiên cứu từng đề xuất khái niệm "trì hoãn chủ động", tức cố ý dời việc để làm dưới áp lực. Các phân tích sau cho rằng đó thực chất là hoãn có kế hoạch, khác bản chất với trì hoãn. Hoãn để thu thập thêm thông tin hay để ý tưởng chín hơn là hợp lý, miễn là quyết định có chủ đích và có thời điểm quay lại rõ ràng.
Vì sao càng gần hạn chót càng dễ làm?
Theo lý thuyết động lực thời gian, khi khoảng cách tới kết quả rút ngắn, giá trị cảm nhận của việc hoàn thành tăng vọt, vượt qua sự khó chịu của nhiệm vụ. Thêm vào đó, nỗi lo trễ hạn trở thành cảm xúc mạnh hơn cảm xúc né tránh ban đầu. Hạn chót trung gian lợi dụng chính cơ chế này sớm hơn.
Người quản lý giúp nhân viên bớt trì hoãn bằng cách nào?
Chia dự án lớn thành mốc kiểm tra định kỳ, làm rõ tiêu chí hoàn thành để giảm mơ hồ, và tạo không khí chấp nhận bản nháp chưa hoàn chỉnh. Sự mơ hồ và nỗi sợ bị đánh giá là hai nguồn trì hoãn hay gặp trong công việc trí óc. Thúc ép bằng phạt nặng có thể làm tăng lo âu và né tránh.
Có khác biệt văn hoá trong trì hoãn không?
Nghiên cứu xuyên văn hoá cho thấy trì hoãn có mặt ở mọi nơi được khảo sát, nhưng mức độ và cách nhìn nhận khác nhau tuỳ chuẩn mực về thời gian và áp lực xã hội. Dữ liệu ngoài các nước phương Tây còn ít, nên chưa đủ để kết luận người Việt trì hoãn nhiều hay ít hơn nơi khác.
Danh sách việc cần làm có giúp chống trì hoãn không?
Danh sách giúp không quên việc và giảm gánh nặng ghi nhớ, nhưng tự nó không giải quyết cảm xúc né tránh. Danh sách hiệu quả hơn khi mỗi mục là hành động cụ thể, có thời điểm làm, thay vì tên dự án chung chung như "luận văn". Kết hợp với ý định thực hiện cho hai ba việc quan trọng nhất mỗi ngày là cách dùng tốt.