Đại học đóng góp cho đổi mới sáng tạo chủ yếu qua ba kênh: đào tạo người có kỹ năng cao, tạo ra tri thức mới qua nghiên cứu, và lan toả tri thức đó ra nền kinh tế qua hợp tác, xuất bản, cấp phép và doanh nghiệp khởi nguồn. Trong ba kênh, kênh đào tạo người thường có tác động lớn nhất, dù kênh chuyển giao công nghệ được nói đến nhiều nhất.
Hiểu được thứ tự này giúp tránh một sai lầm chính sách phổ biến: đo đóng góp của đại học bằng số bằng sáng chế hay số công ty khởi nghiệp, rồi ép trường chạy theo chỉ tiêu đó. Bằng chứng quốc tế cho thấy chuyển giao công nghệ quan trọng nhưng tập trung ở một số ít trường, và hiếm khi tự nuôi được chính nó.
Ba lần đại học đổi vai trò: dòng thời gian
Vai trò của đại học trong nền kinh tế đã được định nghĩa lại ít nhất ba lần, và các tranh luận hiện nay về "đại học khởi nghiệp" là phần tiếp nối của lịch sử đó.
- 1810, Berlin: Wilhelm von Humboldt góp phần định hình Đại học Berlin trên nguyên tắc thống nhất giảng dạy và nghiên cứu, tự do học thuật. Mô hình đại học nghiên cứu lan sang các nước khác trong thế kỷ 19, ảnh hưởng rõ nhất ở Mỹ với Đại học Johns Hopkins thành lập năm 1876.
- 1862, Mỹ: Đạo luật Morrill cấp đất để lập các trường đại học dạy nông nghiệp và cơ khí, gắn đại học với nhu cầu sản xuất của từng bang. Mạng lưới khuyến nông của các trường này sau đó là kênh lan toả tri thức nông nghiệp quan trọng.
- 1945: báo cáo Science, the Endless Frontier của Vannevar Bush đặt nền cho mô hình nhà nước tài trợ nghiên cứu cơ bản ở đại học, dựa trên giả định nghiên cứu cơ bản sẽ dẫn tới ứng dụng.
- 1980: Đạo luật Bayh-Dole cho phép đại học Mỹ sở hữu sáng chế từ nghiên cứu do liên bang tài trợ, mở đường cho văn phòng chuyển giao công nghệ.
- Thập niên 1990: Henry Etzkowitz và Loet Leydesdorff đề xuất mô hình Triple Helix (ba nhà: đại học, doanh nghiệp, nhà nước) và khái niệm "đại học khởi nghiệp", coi phát triển kinh tế là sứ mệnh thứ ba bên cạnh dạy và nghiên cứu.
Mỗi giai đoạn để lại một lớp kỳ vọng mới mà không xoá lớp cũ. Đại học hôm nay vừa phải dạy đại trà, vừa nghiên cứu ở trình độ quốc tế, vừa chuyển giao, và căng thẳng giữa các sứ mệnh này là nguồn gốc của nhiều tranh luận về quản trị đại học.
Kênh lớn nhất ít được đo: con người
Khi các nhà nghiên cứu hỏi doanh nghiệp họ hưởng lợi từ đại học qua kênh nào, các khảo sát kinh điển như của Wesley Cohen, Richard Nelson và John Walsh (2002) ở Mỹ cho thấy xuất bản khoa học, hội thảo, trao đổi không chính thức và tuyển dụng người tốt nghiệp được xếp hạng quan trọng hơn cấp phép bằng sáng chế ở hầu hết các ngành. Ngoại lệ đáng kể là dược phẩm, nơi bằng sáng chế là kênh chính.
Tri thức ngầm, thứ không viết được thành văn bản, di chuyển theo người. Một kỹ sư được đào tạo trong phòng thí nghiệm có thiết bị và phương pháp hiện đại mang theo cách làm việc khi về doanh nghiệp. Đó là lý do các cụm công nghệ thường mọc quanh đại học nghiên cứu mạnh: doanh nghiệp đến để tuyển người hơn là để mua bằng sáng chế.
Bằng chứng ở cấp vùng ủng hộ điều này. Anna Valero và John Van Reenen (2019) xây dựng dữ liệu về hơn 15.000 trường đại học ở khoảng 1.500 vùng thuộc 78 nước, thấy số trường đại học tăng 10% gắn với GDP bình quân đầu người tương lai cao hơn khoảng 0,4% ở vùng đó, và tác động lan sang vùng lân cận. Tác giả cho rằng kênh chính là vốn con người và đổi mới, dù tách bạch nhân quả hoàn toàn vẫn khó.
Bayh-Dole và chuyển giao công nghệ: thành công thật và kỳ vọng thổi phồng
Điều Bayh-Dole làm được. Sau năm 1980, số bằng sáng chế của đại học Mỹ tăng mạnh, các trường lập văn phòng chuyển giao, một số công nghệ nổi tiếng như kỹ thuật tái tổ hợp DNA của Cohen và Boyer (Stanford và Đại học California) mang lại doanh thu cấp phép lớn. Đạo luật được nhiều nước học theo.
Phản biện về nhân quả. David Mowery và cộng sự chỉ ra số bằng sáng chế đại học đã tăng trước 1980, gắn với sự phát triển của công nghệ sinh học; Bayh-Dole có thể tăng tốc nhưng không tạo ra xu hướng. Một phần tăng trưởng là các sáng chế giá trị thấp.
Doanh thu tập trung cực độ. Ở Mỹ, phần lớn thu nhập cấp phép của toàn hệ thống đến từ một số rất ít "bom tấn" ở một số ít trường. Nhiều phân tích cho thấy phần lớn văn phòng chuyển giao công nghệ không tự trang trải được chi phí hoạt động.
Rủi ro cho khoa học mở. Có lo ngại rằng động cơ sáng chế làm chậm công bố và hạn chế chia sẻ vật liệu nghiên cứu. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy tác động có nhưng không lớn như lo ngại ban đầu ở hầu hết lĩnh vực.
Bài học cho nước đi sau. Đặt mục tiêu doanh thu chuyển giao cho đại học là kỳ vọng sai về mặt thống kê. Mục tiêu hợp lý hơn là tăng hợp tác nghiên cứu với doanh nghiệp, dòng người qua lại, và giảm chi phí giao dịch khi doanh nghiệp muốn làm việc với trường.
Mô hình ba nhà: hữu ích như ngôn ngữ, yếu như lý thuyết
Mô hình Triple Helix nói rằng đổi mới nảy sinh từ tương tác giữa đại học, doanh nghiệp và nhà nước, trong đó ranh giới giữa ba bên mờ dần: đại học lập doanh nghiệp, doanh nghiệp làm nghiên cứu cơ bản, nhà nước làm nhà đầu tư mạo hiểm. Mô hình được dùng rộng rãi trong các chiến lược đổi mới vùng và đã được mở rộng thành Quadruple Helix khi thêm xã hội dân sự.
Điểm mạnh của mô hình là cung cấp ngôn ngữ chung cho nhà hoạch định và gợi ý nơi cần can thiệp. Điểm yếu là khó kiểm chứng: hầu như mọi hệ thống đổi mới thành công đều có thể được kể lại như một câu chuyện ba nhà, nên mô hình ít khi cho dự báo có thể bác bỏ. Các nhà nghiên cứu hệ thống đổi mới quốc gia theo truyền thống của Christopher Freeman và Bengt-Åke Lundvall nhấn mạnh thêm năng lực hấp thụ của doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp không có đội ngũ kỹ thuật để hiểu nghiên cứu, ba nhà có ngồi cùng bàn cũng không chuyển giao được gì.
Một ví dụ thường được nêu là Viện Fraunhofer ở Đức: các viện nghiên cứu ứng dụng gắn với đại học, sống phần lớn bằng hợp đồng với doanh nghiệp, và nhà nước cấp kinh phí nền tỷ lệ thuận với doanh thu hợp đồng. Thiết kế tài chính này buộc viện phải làm điều doanh nghiệp cần, trong khi vẫn giữ quan hệ với nghiên cứu cơ bản ở đại học. Đài Loan với Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp (ITRI) là một phiên bản khác, đóng vai trò trung gian quan trọng trong giai đoạn hình thành ngành bán dẫn. Điểm chung: đổi mới không đi thẳng từ giảng đường ra nhà máy mà qua một tầng tổ chức trung gian chuyên làm cầu nối.
Với nhiều nước thu nhập trung bình, nút thắt nằm ở chính năng lực hấp thụ này. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển, nên đại học thiếu đối tác có khả năng biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm. Chính sách đổi mới khi đó cần đầu tư vào cả phía cầu, không chỉ đẩy đại học "ra thị trường".
Chỉ số nào phản ánh đúng đóng góp đổi mới của một trường đại học
Các bảng xếp hạng và hệ thống đánh giá thường dùng chỉ số dễ đếm. Bảng dưới so sánh độ tin cậy của các chỉ số thường gặp.
| Chỉ số | Đo được gì | Bẫy khi dùng |
|---|---|---|
| Số bằng sáng chế | Hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ | Nhiều bằng không bao giờ được cấp phép; dễ chạy theo số lượng |
| Doanh thu cấp phép | Giá trị thương mại trực tiếp | Phân phối lệch, một bằng có thể chiếm phần lớn; biến động mạnh theo năm |
| Số doanh nghiệp khởi nguồn | Tinh thần khởi nghiệp | Không phân biệt doanh nghiệp tồn tại và phát triển với doanh nghiệp trên giấy |
| Hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp | Nhu cầu thực của khu vực tư | Có thể chỉ là dịch vụ thử nghiệm đơn giản, giá trị tri thức thấp |
| Đồng tác giả với doanh nghiệp | Hợp tác nghiên cứu thực chất | Ít ở nước có khu vực nghiên cứu tư yếu |
| Việc làm và vị trí của người tốt nghiệp | Kênh con người, kênh lớn nhất | Cần hệ thống theo dõi người tốt nghiệp, ít trường có |
Không chỉ số nào đủ một mình. Một bộ ba hợp lý cho trường đại học ở nước đang phát triển là hợp đồng nghiên cứu với doanh nghiệp, đồng tác giả với doanh nghiệp và dữ liệu việc làm người tốt nghiệp trong ngành kỹ thuật cao.
Gợi ý cho đại học Việt Nam: bắt đầu từ cái làm được
Tự chủ đại học, được mở rộng qua Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, cho các trường nhiều quyền hơn về tài chính, tổ chức và học thuật, điều kiện cần để hợp tác linh hoạt với doanh nghiệp. Nhưng tự chủ cũng đặt áp lực tự chủ tài chính, và nguồn thu chính của phần lớn trường vẫn là học phí, khiến thời gian dành cho nghiên cứu cạnh tranh với giảng dạy.
Trong bối cảnh đó, thứ tự ưu tiên hợp lý là: một, nâng chất lượng đào tạo kỹ sư và nhà khoa học, kể cả đưa nghiên cứu vào đào tạo đại học để người học quen phương pháp; hai, xây quan hệ dài hạn với một số doanh nghiệp có năng lực kỹ thuật, kể cả doanh nghiệp FDI có trung tâm thiết kế hoặc kiểm thử ở Việt Nam; ba, đơn giản hoá thủ tục hợp đồng, phân chia quyền sở hữu trí tuệ để doanh nghiệp không ngại làm việc với trường; bốn, mới đến văn phòng chuyển giao và vườn ươm.
Các vấn đề pháp lý về quyền sở hữu kết quả nghiên cứu dùng ngân sách nhà nước và phân chia lợi ích thay đổi theo thời gian; nhà trường và nhà nghiên cứu nên kiểm tra quy định hiện hành của luật sở hữu trí tuệ và luật khoa học, công nghệ trước khi ký kết.
Câu hỏi thường gặp
Đại học có nên chịu trách nhiệm tạo ra doanh nghiệp khởi nghiệp không?
Đại học có thể tạo môi trường thuận lợi, nhưng khởi nghiệp thành công phụ thuộc vào vốn mạo hiểm, thị trường và hệ sinh thái rộng hơn. Đặt chỉ tiêu số doanh nghiệp khởi nguồn dễ dẫn tới doanh nghiệp hình thức. Đo tỷ lệ sống sót sau ba đến năm năm có ý nghĩa hơn.
Thung lũng Silicon có phải do Đại học Stanford tạo ra không?
Stanford, với vai trò của Frederick Terman và khu công nghiệp của trường, là một yếu tố quan trọng. Nhưng chi tiêu quốc phòng, vốn mạo hiểm, luật lao động hạn chế điều khoản không cạnh tranh ở California và dòng người nhập cư cũng là yếu tố then chốt. Sao chép riêng phần đại học hiếm khi tái tạo được.
Nghiên cứu cơ bản có còn đáng đầu tư khi kết quả lâu mới ứng dụng?
Lập luận kinh tế cho tài trợ công là nghiên cứu cơ bản có lan toả lớn mà doanh nghiệp không giữ được lợi ích, nên thị trường đầu tư dưới mức. Với nước đi sau, nghiên cứu cơ bản trong nước còn có giá trị như năng lực để hiểu và hấp thụ khoa học thế giới.
Xếp hạng đại học quốc tế có phản ánh năng lực đổi mới không?
Các bảng xếp hạng phổ biến dựa nhiều vào trích dẫn, danh tiếng và tỷ lệ quốc tế hoá, chỉ phản ánh gián tiếp năng lực đổi mới. Chúng có lợi cho trường lớn, mạnh về y sinh và nói tiếng Anh. Dùng như một tín hiệu thì được, làm mục tiêu chiến lược thì dễ lệch hướng.
Đại học nên giữ quyền sở hữu sáng chế hay để nhà khoa học giữ?
Các nước theo hai hướng khác nhau. Thuỵ Điển duy trì đặc quyền giáo sư, tức nhà khoa học giữ sáng chế; Na Uy bỏ đặc quyền này năm 2003 và nghiên cứu sau đó ghi nhận số doanh nghiệp khởi nguồn và bằng sáng chế của nhà khoa học giảm. Bằng chứng gợi ý động cơ cá nhân của nhà khoa học là yếu tố quan trọng.
Đo năng lực hấp thụ của doanh nghiệp như thế nào?
Các chỉ số thường dùng là tỷ lệ nhân lực có trình độ kỹ thuật cao, chi tiêu nghiên cứu và phát triển nội bộ, việc tham gia các mạng lưới kỹ thuật. Khái niệm do Cohen và Levinthal đề xuất năm 1990 nhấn mạnh rằng doanh nghiệp phải tự làm nghiên cứu ở mức nào đó mới tiếp thu được tri thức bên ngoài.