Vốn con người là tổng hợp kiến thức, kỹ năng và sức khoẻ mà một người tích luỹ được, khiến người đó làm ra nhiều giá trị hơn trong lao động. Gọi là "vốn" vì nó có ba tính chất giống máy móc: phải bỏ chi phí hôm nay (học phí, thời gian, thu nhập bỏ lỡ, chăm sóc y tế) để thu lợi ích trong nhiều năm sau, nó hao mòn nếu không được dùng và cập nhật, và có thể đánh giá suất sinh lợi như một khoản đầu tư.
Khác với máy móc, vốn con người không tách khỏi người sở hữu, không thế chấp được và không bán được. Điểm khác biệt này giải thích phần lớn các vấn đề chính sách: thị trường tín dụng không tự cho vay để đi học, doanh nghiệp ngại đào tạo kỹ năng mà người lao động có thể mang sang đối thủ, và hộ nghèo đầu tư dưới mức tối ưu cho con cái dù lợi ích về sau rất lớn.
Bài này đi qua nguồn gốc khái niệm, ba thành phần của vốn con người, cách đo hiện nay, cuộc tranh luận giữa lý thuyết vốn con người và lý thuyết tín hiệu, nghịch lý ở cấp vĩ mô, và một khung đầu tư theo vòng đời áp dụng được cho người làm chính sách lẫn doanh nghiệp.
Khái niệm ra đời: Schultz, Becker và một cú chuyển trong tư duy
Ý tưởng coi kỹ năng con người là một dạng của cải có từ Adam Smith, người so sánh một người thợ lành nghề được đào tạo tốn kém với một cỗ máy đắt tiền. Nhưng phải tới cuối thập niên 1950 và 1960, khái niệm này mới thành một chương trình nghiên cứu. Theodore Schultz, trong bài phát biểu nhậm chức chủ tịch Hiệp hội Kinh tế Mỹ in thành bài Investment in Human Capital (American Economic Review, 1961), lập luận rằng phần lớn tăng trưởng thu nhập của Mỹ mà vốn vật chất không giải thích được chính là kết quả của đầu tư vào con người.
Gary Becker hệ thống hoá lý thuyết trong cuốn Human Capital (1964): mỗi người quyết định học thêm, đào tạo thêm bằng cách so chi phí hiện tại với dòng thu nhập tăng thêm trong tương lai, chiết khấu về hiện tại. Jacob Mincer cùng thời đưa ra phương trình thu nhập nổi tiếng nối số năm đi học và kinh nghiệm với tiền lương. Schultz nhận giải Nobel năm 1979, Becker năm 1992.
Cú chuyển trong tư duy nằm ở chỗ giáo dục và y tế không còn bị coi là tiêu dùng xa xỉ mà nước nghèo chỉ chi khi đã giàu, mà là đầu tư sinh lời có thể đi trước tăng trưởng. Lúc mới ra đời, khái niệm từng bị phản đối vì nghe như coi con người là hàng hoá. Schultz trả lời rằng chính việc không tính con người là tài sản mới làm chính sách xem nhẹ họ.
Ba thành phần: học vấn, kỹ năng nghề và sức khoẻ
Học vấn phổ thông và đại học. Thành phần được đo nhiều nhất, qua số năm đi học và bằng cấp. Giá trị của nó nằm ở năng lực nhận thức nền: đọc hiểu, tính toán, suy luận, khả năng học tiếp. Những năng lực này là điều kiện để tiếp thu công nghệ mới, nên lợi ích của học vấn thường lớn hơn khi nền kinh tế thay đổi nhanh, điều Nelson và Phelps đã lập luận từ năm 1966.
Đào tạo chung và đào tạo chuyên biệt. Becker phân biệt hai loại kỹ năng học tại nơi làm việc. Kỹ năng chung (vận hành máy tiện, kế toán, ngoại ngữ) có giá trị ở nhiều doanh nghiệp; kỹ năng chuyên biệt (quy trình nội bộ, hệ thống riêng của một công ty) chỉ có giá trị ở nơi đào tạo. Hệ quả: trong thị trường cạnh tranh, doanh nghiệp không có lý do trả tiền cho đào tạo chung, vì người lao động có thể nghỉ sang chỗ khác; người lao động phải tự trả, thường qua lương học việc thấp. Thực tế nhiều doanh nghiệp vẫn đào tạo chung, và Acemoglu cùng Pischke (1998) giải thích điều này bằng thị trường lao động không hoàn hảo, nơi doanh nghiệp giữ được một phần lợi ích.
Sức khoẻ và dinh dưỡng. Michael Grossman (1972) mô hình hoá sức khoẻ như một dạng vốn hao mòn theo tuổi và được bù bằng đầu tư y tế. Với nước đang phát triển, kênh quan trọng nhất là dinh dưỡng giai đoạn sớm: suy dinh dưỡng thấp còi trong khoảng một nghìn ngày đầu đời, từ khi mang thai tới hai tuổi, gắn với khả năng học và thu nhập thấp hơn khi trưởng thành, và phần lớn khó bù lại về sau.
Kỹ năng không thuộc nhận thức. Tính kiên trì, tự kỷ luật, khả năng hợp tác, thường gọi là kỹ năng mềm hay kỹ năng cảm xúc xã hội. James Heckman và cộng sự chỉ ra những kỹ năng này dự báo thu nhập, sức khoẻ và hành vi rủi ro ngang với điểm kiểm tra nhận thức, và chịu ảnh hưởng mạnh của môi trường thời thơ ấu.
Đo vốn con người: các thước đo và điểm mù của từng loại
Vì vốn con người không có giá thị trường như cổ phiếu hay nhà xưởng, mọi thước đo đều là gián tiếp. Bảng dưới so các thước đo được dùng phổ biến trong nghiên cứu và chính sách.
| Thước đo | Đo cái gì | Điểm mạnh | Điểm mù |
|---|---|---|---|
| Số năm đi học bình quân của người trưởng thành (bộ dữ liệu Barro–Lee) | Lượng giáo dục tích luỹ | Có cho hầu hết các nước, chuỗi dài từ 1950 | Một năm học ở nước này không bằng một năm học ở nước khác |
| Điểm các kỳ đánh giá quốc tế (PISA, TIMSS, PIRLS) | Kỹ năng học sinh ở một độ tuổi | So sánh được chất lượng thực | Chỉ đo học sinh đang đi học, đo thế hệ tương lai chứ không phải lực lượng lao động hiện tại |
| Khảo sát kỹ năng người lớn (PIAAC của OECD, STEP của Ngân hàng Thế giới) | Đọc hiểu, tính toán của người lao động | Đo trực tiếp năng lực người đang làm việc | Ít nước có, chi phí cao, chu kỳ dài |
| Số năm học điều chỉnh theo chất lượng (LAYS) | Số năm đi học quy đổi theo mức học được | Gộp lượng và chất vào một con số dễ hiểu | Phụ thuộc cách quy đổi điểm thi giữa các hệ thống |
| Tỷ lệ trẻ thấp còi, tuổi thọ người trưởng thành | Thành phần sức khoẻ | Dữ liệu điều tra dân số và y tế khá phổ biến | Không phản ánh kỹ năng |
| Phương pháp thu nhập trọn đời (Jorgenson–Fraumeni) | Giá trị hiện tại của thu nhập tương lai | Ra con số tiền tệ so được với vốn vật chất | Phụ thuộc giả định chiết khấu, lẫn cả yếu tố tiền lương không do kỹ năng |
Điểm cần nhớ khi đọc báo cáo: một nước có thể tăng nhanh số năm đi học mà kỹ năng không tăng tương ứng. Ngân hàng Thế giới gọi hiện tượng học sinh đến trường mà học được rất ít là "khủng hoảng học tập" trong Báo cáo Phát triển Thế giới 2018. Vì vậy các thước đo kết hợp lượng và chất đang dần thay thế số năm đi học thuần tuý.
Chỉ số Vốn con người (HCI) của Ngân hàng Thế giới đọc thế nào
Năm 2018, Ngân hàng Thế giới công bố Chỉ số Vốn con người (Human Capital Index, HCI) trong khuôn khổ Dự án Vốn con người. Chỉ số trả lời một câu hỏi cụ thể: một đứa trẻ sinh ra hôm nay có thể đạt bao nhiêu phần năng suất tiềm năng khi trưởng thành, nếu điều kiện y tế và giáo dục hiện tại của đất nước giữ nguyên? Mốc so sánh là một người được học đủ mười bốn năm với chất lượng cao nhất và có sức khoẻ đầy đủ.
HCI ghép ba thành phần: khả năng sống sót tới năm tuổi; số năm đi học kỳ vọng nhân với mức học được (đo bằng điểm thi quốc tế đã quy đổi về một thang chung); và sức khoẻ, đo bằng tỷ lệ người mười lăm tuổi sống tới sáu mươi và tỷ lệ trẻ không bị thấp còi. Các thành phần được quy về đơn vị năng suất dựa trên ước lượng suất sinh lợi của giáo dục và sức khoẻ trong văn liệu. Một nước có HCI 0,6 nghĩa là đứa trẻ sinh ra hôm nay, khi đi làm, chỉ đạt khoảng 60% năng suất có thể đạt được.
Việt Nam thường được nêu là trường hợp có HCI cao so với mức thu nhập, chủ yếu nhờ điểm số học sinh tốt trong các kỳ đánh giá quốc tế; bản cập nhật năm 2020 cho Việt Nam khoảng 0,69. Phần kéo xuống nằm ở số năm đi học kỳ vọng và tỷ lệ thấp còi còn đáng kể ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cách đọc đúng là xem thành phần nào kéo chỉ số xuống và chênh lệch giữa các nhóm, không chỉ thứ hạng chung. Chỉ số cũng có giới hạn: không đo kỹ năng của lực lượng lao động hiện tại, không đo đào tạo nghề và học tập suốt đời.
Vốn con người hay tín hiệu: cuộc tranh luận chưa khép lại
Lập luận tín hiệu. Michael Spence (1973) đưa ra một cách giải thích khác cho việc người học nhiều hơn được trả lương cao hơn: bằng cấp không làm người ta giỏi lên mà chỉ báo hiệu cho nhà tuyển dụng những phẩm chất sẵn có như năng lực, sự kiên trì. Vì người có năng lực cao học dễ hơn, chỉ họ mới sẵn lòng trả chi phí để có bằng. Spence nhận giải Nobel năm 2001 cùng Akerlof và Stiglitz.
Vì sao tranh luận này quan trọng. Nếu giáo dục chủ yếu tạo kỹ năng, mở rộng giáo dục làm cả xã hội giàu lên. Nếu chủ yếu là tín hiệu, lợi ích riêng của người có bằng vẫn có thật, nhưng lợi ích xã hội nhỏ hơn nhiều: mọi người chạy đua lấy bằng cao hơn để giữ nguyên vị trí tương đối, giống cuộc đua vũ trang. Bryan Caplan trong The Case against Education (2018) đẩy lập luận tín hiệu tới cùng và ước tính phần lớn lợi ích của giáo dục là tín hiệu; quan điểm này bị nhiều nhà kinh tế giáo dục phản bác.
Bằng chứng nghiêng về đâu. Hiệu ứng "tấm bằng" (thu nhập nhảy vọt ở năm tốt nghiệp so với năm học dở dang) ủng hộ một phần tín hiệu. Nhưng các nghiên cứu dùng thí nghiệm tự nhiên, như thay đổi luật giáo dục bắt buộc buộc một nhóm học thêm, vẫn thấy thu nhập tăng ngay cả với những năm học không gắn với bằng cấp nào. Kỹ năng đo trực tiếp (đọc hiểu, tính toán) cũng dự báo tiền lương sau khi đã kiểm soát bằng cấp.
Hiện trạng. Đa số nhà kinh tế coi cả hai cơ chế cùng tồn tại, với tỷ trọng khác nhau theo ngành và cấp học. Hàm ý thực tế cho nhà tuyển dụng: đánh giá kỹ năng trực tiếp (bài kiểm tra công việc, thời gian thử việc) giúp giảm phụ thuộc vào bằng cấp như tín hiệu duy nhất.
Nghịch lý vĩ mô: giáo dục tăng mạnh mà tăng trưởng không theo
Ở cấp cá nhân, bằng chứng người học nhiều hơn kiếm nhiều hơn rất vững. Nhưng khi chuyển lên cấp quốc gia, kết quả gây bối rối. Lant Pritchett trong bài Where Has All the Education Gone? (World Bank Economic Review, 2001) cho thấy nhiều nước đang phát triển tăng nhanh số năm đi học từ 1960 tới 1990 nhưng tăng trưởng năng suất không cải thiện tương ứng, thậm chí giảm.
Pritchett đưa ra ba giải thích, mỗi cái gợi một hướng chính sách khác. Thứ nhất, môi trường thể chế lệch lạc khiến người có học dồn vào các hoạt động giành giật đặc lợi, như tìm chỗ trong bộ máy hay các ngành được bảo hộ, thay vì sản xuất. Thứ hai, cầu về lao động có kỹ năng không tăng: nền kinh tế đình trệ thì thêm kỹ sư chỉ làm lương kỹ sư giảm. Thứ ba, chất lượng giáo dục quá thấp, nên số năm đi học tăng mà kỹ năng thật không tăng.
Robert Lucas (1988) bổ sung một chiều khác: vốn con người có ngoại ứng, người có kỹ năng làm cho người xung quanh năng suất hơn, đặc biệt trong thành phố. Nếu đúng, lợi ích xã hội của giáo dục lớn hơn lợi ích cá nhân, nhưng chỉ phát huy khi người có kỹ năng tập trung và làm việc cùng nhau. Bài học chung từ nghịch lý: vốn con người là điều kiện cần, nhưng chỉ chuyển thành tăng trưởng khi đi cùng cầu lao động, thể chế khuyến khích sản xuất và chất lượng học tập thật.
Đầu tư theo vòng đời: dùng khung Heckman cho chính sách và doanh nghiệp
James Heckman, giải Nobel năm 2000, đưa ra lập luận được biết đến qua hình ảnh "đường cong Heckman": suất sinh lợi của đầu tư vào con người cao nhất ở giai đoạn sớm, vì kỹ năng tạo ra kỹ năng, nền tốt giúp mọi khoản đầu tư sau sinh lời hơn. Bằng chứng nổi tiếng là các chương trình giáo dục mầm non ở Mỹ như Perry Preschool, theo dõi người tham gia tới tuổi trung niên. Một số tổng quan gần đây cho rằng đường cong không dốc đều như hình dung ban đầu và nhiều chương trình đào tạo người lớn được thiết kế tốt vẫn sinh lời. Dù vậy, khung vòng đời vẫn hữu ích để kiểm tra danh mục đầu tư:
- Một nghìn ngày đầu đời: dinh dưỡng bà mẹ và trẻ nhỏ, tiêm chủng, nước sạch. Chỉ báo theo dõi: tỷ lệ thấp còi theo vùng và nhóm thu nhập.
- Mầm non: chất lượng tương tác giữa giáo viên và trẻ quan trọng hơn cơ sở vật chất. Chỉ báo: tỷ lệ trẻ năm tuổi sẵn sàng đi học, tỷ lệ giáo viên được đào tạo.
- Phổ thông: đo mức học được chứ không chỉ tỷ lệ nhập học; giữ học sinh vùng khó khăn ở lại tới hết trung học cơ sở và trung học phổ thông.
- Giáo dục nghề và đại học: gắn với nhu cầu doanh nghiệp, có thông tin công khai về việc làm và thu nhập của người tốt nghiệp để người học tự chọn.
- Đào tạo tại nơi làm việc: với doanh nghiệp, tách rõ kỹ năng chung và chuyên biệt để chia sẻ chi phí hợp lý, ví dụ cam kết thời gian làm việc sau đào tạo chung tốn kém.
- Sức khoẻ người trưởng thành và học lại: bệnh không lây nhiễm, an toàn lao động, chương trình học lại cho lao động lớn tuổi khi công nghệ thay đổi.
Câu hỏi kiểm tra cho một tỉnh hay một doanh nghiệp: ngân sách đang dồn vào khâu nào, và khâu nào có khoảng trống lớn nhất so với mức sinh lời ước tính? Thường khoản chi dễ thấy (xây trường, mua thiết bị) được ưu tiên hơn khoản chi khó thấy nhưng sinh lời cao (dinh dưỡng sớm, chất lượng giáo viên).
Câu hỏi thường gặp
Vốn con người khác vốn xã hội thế nào?
Vốn con người nằm trong từng cá nhân: kiến thức, kỹ năng, sức khoẻ. Vốn xã hội nằm trong quan hệ giữa người với người: mạng lưới, chuẩn mực tin cậy, khả năng hợp tác, khái niệm gắn với Coleman và Putnam. Hai loại bổ trợ nhau, nhưng vốn xã hội khó đo hơn nhiều, và các nghiên cứu về tác động kinh tế của nó có bằng chứng nhân quả yếu hơn so với vốn con người.
Chảy máu chất xám có làm nước nghèo mất vốn con người không?
Mất người có kỹ năng là thiệt trực tiếp, nhất là trong y tế. Nhưng văn liệu gần đây chỉ ra các kênh bù trừ: kiều hối, mạng lưới kinh doanh và chuyển giao tri thức qua cộng đồng ở nước ngoài, và việc triển vọng di cư khuyến khích nhiều người trong nước đầu tư học hơn, trong đó phần lớn rốt cuộc ở lại. Tác động ròng khác nhau theo quy mô di cư và nhóm kỹ năng.
Vốn con người có hao mòn không?
Có. Kỹ năng không dùng sẽ mai một, và kiến thức chuyên môn lỗi thời khi công nghệ thay đổi. Các khảo sát kỹ năng người lớn cho thấy năng lực đọc hiểu, tính toán có thể giảm sau khi rời trường nếu công việc không đòi hỏi dùng tới. Đây là lý do khái niệm học tập suốt đời và đào tạo lại trở thành một phần của chính sách vốn con người.
Có nên đưa vốn con người vào bảng cân đối kế toán doanh nghiệp không?
Chuẩn mực kế toán hiện hành ghi chi phí đào tạo là chi phí trong kỳ, không ghi thành tài sản, vì doanh nghiệp không sở hữu người lao động và lợi ích tương lai không chắc chắn. Nhiều doanh nghiệp công bố thêm chỉ số về nhân lực trong báo cáo quản trị, và các khung báo cáo bền vững có phần về đào tạo, nhưng đây là thông tin bổ sung chứ không phải tài sản trên sổ sách.
Vì sao cùng số năm đi học mà kỹ năng chênh lệch lớn giữa các nước?
Do chất lượng dạy và học khác nhau: năng lực giáo viên, thời gian học thực tế, chương trình phù hợp với trình độ học sinh, và sự chuẩn bị của trẻ trước khi vào lớp một. Các kỳ đánh giá quốc tế cho thấy học sinh lớp bốn ở một số nước thu nhập thấp chưa đọc hiểu được một đoạn văn đơn giản dù đã đi học nhiều năm.
Thu nhập bỏ lỡ có phải chi phí lớn nhất của đi học không?
Với giáo dục sau phổ thông, thường là có. Học phí chỉ là một phần; phần lớn hơn là thu nhập người học lẽ ra kiếm được nếu đi làm. Becker và Schultz đều nhấn mạnh điểm này. Nó giải thích vì sao trẻ em hộ nghèo bỏ học sớm hơn khi thị trường lao động địa phương có việc làm phổ thông lương khá, dù về dài hạn học tiếp có lợi hơn.