Chuyển đổi số là việc một tổ chức thay đổi cách nó tạo ra, phân phối và thu về giá trị, dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Trọng tâm nằm ở chữ "thay đổi": quy trình, mô hình kinh doanh, cơ cấu ra quyết định và văn hoá làm việc đều bị đặt lại. Mua một phần mềm kế toán hay mở một trang bán hàng trực tuyến chưa phải là chuyển đổi số nếu cách doanh nghiệp vận hành vẫn y như cũ.
Để tránh nhầm lẫn, giới nghiên cứu và tư vấn thường tách ba tầng: số hoá (digitization, đưa thông tin từ dạng vật lý sang dạng số), số hoá quy trình (digitalization, dùng công nghệ số để chạy một quy trình có sẵn nhanh và rẻ hơn) và chuyển đổi số (digital transformation, thay đổi chính logic kinh doanh). Ba tầng nối tiếp nhau nhưng không tự động kéo nhau đi: rất nhiều doanh nghiệp dừng mãi ở tầng một và tầng hai.
Bài này giải thích từng tầng bằng ví dụ cụ thể, điểm lại các khung lý thuyết chính, những tranh luận còn mở về khái niệm, và một bộ câu hỏi để bạn tự kiểm tổ chức mình đang ở đâu.
Ba tầng: số hoá, số hoá quy trình, chuyển đổi số
Cách phân tầng này phổ biến trong tài liệu tư vấn và học thuật từ khoảng giữa thập niên 2010. Ranh giới không tuyệt đối, nhưng đủ rõ để không gọi mọi dự án công nghệ là chuyển đổi số.
| Tầng | Thay đổi cái gì | Ví dụ trong một công ty phân phối | Thước đo thành công |
|---|---|---|---|
| Số hoá (digitization) | Dạng lưu trữ thông tin | Scan hoá đơn giấy, nhập danh sách khách hàng từ sổ tay vào bảng tính | Tỷ lệ thông tin đã ở dạng số, tra cứu được |
| Số hoá quy trình (digitalization) | Cách thực hiện một quy trình có sẵn | Nhân viên kinh doanh lên đơn trên ứng dụng thay vì gọi điện về văn phòng; hoá đơn điện tử | Thời gian chu trình, lỗi nhập liệu, chi phí mỗi giao dịch |
| Chuyển đổi số (digital transformation) | Mô hình tạo giá trị và ra quyết định | Dùng dữ liệu bán ra từng điểm để tự đề xuất đơn bổ sung cho đại lý, chuyển từ "bán hàng" sang "quản lý tồn kho hộ đại lý" và thu phí dịch vụ | Nguồn doanh thu mới, biên lợi nhuận, tốc độ ra quyết định |
Điểm mấu chốt của bảng là cột cuối. Hai tầng đầu đo bằng hiệu quả: làm cùng một việc nhưng nhanh hơn, rẻ hơn. Tầng thứ ba đo bằng hiệu lực: doanh nghiệp làm một việc khác, có giá trị hơn, mà trước đây không làm được vì thiếu dữ liệu. Nếu sau hai năm "chuyển đổi số" mà bộ chỉ số bạn theo dõi chỉ toàn thời gian xử lý và số giấy tiết kiệm, nhiều khả năng tổ chức mới đi hết tầng hai.
Một hệ quả thực tế: tầng một và hai có thể giao cho phòng công nghệ thông tin, còn tầng ba thì không. Nó chạm tới việc ai được quyết định giá, ai sở hữu khách hàng, sản phẩm nào bị khai tử, nên chỉ ban lãnh đạo mới có quyền ra các quyết định đó.
Khái niệm này đến từ đâu
Ý tưởng rằng công nghệ thông tin có thể làm thay đổi cấu trúc doanh nghiệp, chứ không chỉ tự động hoá công việc giấy tờ, đã có từ lâu trước chữ "chuyển đổi số". Năm 1990, Michael Hammer viết bài "Reengineering Work: Don't Automate, Obliterate" trên Harvard Business Review, lập luận rằng gắn máy tính vào quy trình cũ chỉ làm cái sai chạy nhanh hơn. Hammer và James Champy sau đó phát triển thành phong trào tái lập quy trình kinh doanh (BPR) trong cuốn sách năm 1993. Tư tưởng cốt lõi giống hệt điều người ta nói về chuyển đổi số ngày nay: thiết kế lại trước, tự động hoá sau.
Cụm "digital transformation" phổ biến mạnh từ đầu thập niên 2010, khi điện thoại thông minh, điện toán đám mây và mạng xã hội khiến chi phí thu thập và xử lý dữ liệu giảm sâu. Cuốn Leading Digital (2014) của George Westerman, Didier Bonnet và Andrew McAfee, dựa trên khảo sát các doanh nghiệp lớn, đưa ra một luận điểm được trích nhiều: doanh nghiệp thành công với công nghệ số cần đồng thời hai thứ, năng lực số (hệ thống, dữ liệu, quy trình) và năng lực lãnh đạo (tầm nhìn, quản trị, gắn kết nhân viên). Thiếu vế thứ hai, đầu tư công nghệ lớn vẫn không ra kết quả.
Ở Việt Nam, khái niệm trở nên quen thuộc rộng rãi sau khi Chương trình Chuyển đổi số quốc gia được phê duyệt năm 2020. Từ đó, chuyển đổi số xuất hiện dày đặc trong kế hoạch của doanh nghiệp, trường học, bệnh viện, kéo theo cả hiện tượng gọi mọi dự án phần mềm là "chuyển đổi số" để dễ được duyệt ngân sách.
Năm hiểu lầm thường gặp
"Chuyển đổi số là việc của phòng IT." Phòng công nghệ thông tin vận hành hạ tầng và hệ thống, nhưng không có quyền đổi mô hình kinh doanh, cơ cấu khuyến khích hay quy trình liên phòng ban. Khi chuyển đổi số bị giao trọn cho IT, kết quả thường là một loạt phần mềm mới chạy song song với cách làm cũ.
"Mua phần mềm tốt là xong." Phần mềm là điều kiện cần. Nghiên cứu về các dự án hệ thống doanh nghiệp từ thập niên 1990 đến nay lặp lại một kết luận: phần lớn giá trị và phần lớn rủi ro nằm ở thay đổi quy trình và con người, không nằm ở bản thân công cụ.
"Doanh nghiệp nhỏ chưa cần." Doanh nghiệp nhỏ thường không cần một "chương trình chuyển đổi số" quy mô lớn, nhưng vẫn chịu tác động: khách hàng tìm và so sánh trực tuyến, đối tác yêu cầu hoá đơn điện tử, ngân hàng chấm điểm tín dụng bằng dữ liệu giao dịch. Câu hỏi đúng là chuyển đổi phần nào trước, không phải có cần hay không.
"Chuyển đổi số là một dự án có ngày kết thúc." Dự án triển khai một hệ thống có ngày kết thúc; năng lực dùng dữ liệu để ra quyết định thì phải duy trì liên tục, như năng lực tài chính hay năng lực bán hàng.
"Càng nhiều công nghệ mới càng tốt." AI, chuỗi khối, Internet vạn vật chỉ có ích khi giải một bài toán kinh doanh cụ thể và có dữ liệu đủ sạch để chạy. Thêm công nghệ khi nền dữ liệu còn rời rạc thường làm tăng chi phí và độ phức tạp, không làm tăng giá trị.
Chuyển đổi số thay đổi cái gì bên trong doanh nghiệp
Có thể nhìn tác động của chuyển đổi số theo bốn lớp. Lớp khách hàng: doanh nghiệp biết khách là ai, mua gì, qua kênh nào, ở cấp từng giao dịch thay vì cấp tổng doanh số tháng. Lớp vận hành: quy trình được thiết kế để sinh dữ liệu ngay khi chạy, chứ không phải nhập lại vào cuối ngày. Lớp ra quyết định: các quyết định lặp lại (đặt hàng bổ sung, duyệt hạn mức, xếp lịch) chuyển dần từ cảm tính sang quy tắc và mô hình có thể kiểm tra. Lớp mô hình kinh doanh: xuất hiện cách kiếm tiền mới, như bán thuê bao thay vì bán đứt, bán dịch vụ bảo trì dự báo kèm thiết bị, hay mở nền tảng cho bên thứ ba.
Bốn lớp này có quan hệ phụ thuộc. Không thể tự động hoá quyết định đặt hàng nếu dữ liệu tồn kho ở mỗi kho một kiểu ghi chép; không thể bán dịch vụ bảo trì dự báo nếu máy móc không gửi dữ liệu vận hành về. Vì vậy các tổ chức đi xa thường đầu tư rất sớm vào thứ ít hấp dẫn nhất: chuẩn hoá danh mục mã hàng, mã khách hàng, quy tắc ghi nhận giao dịch.
Một điểm hay bị bỏ qua là cơ cấu tổ chức. Định luật Conway, do Melvin Conway nêu cuối thập niên 1960, quan sát rằng hệ thống mà một tổ chức thiết kế ra có xu hướng sao chép cấu trúc giao tiếp của chính tổ chức đó. Nếu phòng kinh doanh, kho và kế toán không nói chuyện với nhau, hệ thống số của họ cũng sẽ là ba hòn đảo. Chuyển đổi số thật vì thế thường kéo theo thay đổi cách chia đội nhóm, ví dụ lập nhóm liên chức năng chịu trách nhiệm trọn một hành trình khách hàng.
Những tranh luận còn mở về khái niệm
Giới học thuật vẫn chưa thống nhất định nghĩa. Một số tổng quan tài liệu về chuyển đổi số ghi nhận hàng chục định nghĩa khác nhau, có cái nhấn mạnh công nghệ, có cái nhấn mạnh chiến lược, có cái nhấn mạnh thay đổi tổ chức. Phê bình phổ biến là khái niệm đã bị kéo giãn đến mức gần như vô nghĩa: khi mọi thứ đều là chuyển đổi số thì từ này không còn giúp phân biệt được gì.
Tranh luận thứ hai xoay quanh câu hỏi chuyển đổi số có phải là hiện tượng mới hay chỉ là tên mới cho thứ đã có. Phe hoài nghi chỉ ra rằng tái lập quy trình những năm 1990, thương mại điện tử những năm 2000 đều hứa hẹn những điều tương tự. Phe ủng hộ lập luận rằng điểm khác nằm ở quy mô và tốc độ: chi phí lưu trữ, tính toán và kết nối giảm mạnh khiến những mô hình trước đây chỉ tập đoàn lớn làm được nay mở ra cho cả doanh nghiệp nhỏ, và hiệu ứng mạng của nền tảng số tạo ra cấu trúc thị trường "người thắng lấy phần lớn".
Tranh luận thứ ba mang tính thực chứng: chuyển đổi số có thực sự cải thiện năng suất không. Ở cấp vĩ mô, nhiều nền kinh tế phát triển chứng kiến tăng trưởng năng suất chậm lại trong thập niên 2010 dù đầu tư số tăng mạnh, gợi nhớ nghịch lý năng suất mà Robert Solow nêu năm 1987. Các giải thích đưa ra gồm độ trễ (doanh nghiệp cần nhiều năm để tổ chức lại quanh công nghệ mới), lợi ích tập trung ở một nhóm nhỏ doanh nghiệp dẫn đầu, và giới hạn của cách đo năng suất hiện hành. Đây vẫn là câu hỏi chưa ngã ngũ.
Tự kiểm: tổ chức của bạn đang ở tầng nào
Thay vì chấm điểm theo số phần mềm đã mua, bạn có thể trả lời lần lượt các câu hỏi sau. Dừng ở câu nào trả lời "không" là thấy điểm nghẽn.
- Dữ liệu cốt lõi đã ở dạng số và có một bản chuẩn chưa? Danh mục khách hàng, sản phẩm, nhà cung cấp có mã thống nhất giữa các phòng, hay mỗi nơi giữ một bảng tính riêng?
- Các quy trình chính có sinh dữ liệu ngay khi chạy không? Đơn hàng, xuất kho, thu tiền có được ghi nhận tại chỗ, hay cuối ngày mới nhập lại từ giấy?
- Ban lãnh đạo có xem số liệu mới trong ngày không? Báo cáo tuần có cần ai đó ngồi gộp tay hai ngày không?
- Có quyết định lặp lại nào đã được ra bằng quy tắc dựa trên dữ liệu chưa? Ví dụ hạn mức công nợ, mức tồn kho an toàn, lịch bảo trì.
- Có sản phẩm, dịch vụ hoặc nguồn thu nào chỉ tồn tại được nhờ dữ liệu không?
- Có người trong ban lãnh đạo chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của các sáng kiến số, chứ không chỉ về tiến độ triển khai phần mềm không?
Câu một và hai thuộc tầng số hoá, câu ba và bốn thuộc số hoá quy trình và bắt đầu chạm tầng ba, câu năm và sáu là dấu hiệu của chuyển đổi số thật. Phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam mà các chương trình hỗ trợ khảo sát đang vướng ở câu một: dữ liệu nền chưa thống nhất, nên mọi tầng trên đều chập chờn.
Câu hỏi thường gặp
Chuyển đổi số khác gì với tin học hoá mà các tổ chức đã làm từ những năm 1990?
Tin học hoá chủ yếu đưa máy tính vào các công việc có sẵn: soạn thảo, kế toán, lưu hồ sơ. Đó là tầng số hoá và một phần số hoá quy trình. Chuyển đổi số nhắm vào thay đổi mô hình tạo giá trị và cách ra quyết định, dựa trên dữ liệu kết nối giữa các bộ phận và với khách hàng. Ranh giới không tuyệt đối, nhưng mục tiêu và thước đo khác nhau.
Có nên thành lập chức danh giám đốc chuyển đổi số không?
Chức danh này hữu ích khi tổ chức đủ lớn và cần một người điều phối liên phòng ban có quyền thật. Nó phản tác dụng khi được dùng để ban lãnh đạo còn lại đẩy trách nhiệm đi. Nhiều tổ chức coi đây là vai trò tạm thời: khi năng lực số đã thấm vào từng khối kinh doanh, chức danh có thể nhập lại vào vai trò giám đốc vận hành hoặc giám đốc công nghệ.
Chuyển đổi số tốn bao nhiêu tiền là hợp lý?
Không có tỷ lệ chuẩn áp dụng chung, vì chi phí phụ thuộc ngành, quy mô và điểm xuất phát. Cách hợp lý hơn là gắn ngân sách với từng bài toán kinh doanh có thước đo rõ, chia thành giai đoạn ngắn, giải ngân giai đoạn sau khi giai đoạn trước chứng minh được giá trị. Nhớ cộng cả chi phí đào tạo, thay đổi quy trình và vận hành lâu dài, thường lớn hơn chi phí mua phần mềm.
Chuyển đổi số trong khu vực công có khác doanh nghiệp không?
Khác ở động lực và thước đo. Doanh nghiệp đo bằng doanh thu, chi phí, thị phần; khu vực công đo bằng chất lượng dịch vụ, thời gian xử lý hồ sơ, mức độ minh bạch và chi phí tuân thủ của người dân. Khu vực công cũng vướng nhiều ràng buộc pháp lý về thủ tục và dữ liệu hơn, nên việc thiết kế lại quy trình thường phải đi kèm sửa văn bản quy định.
Làm sao biết một đề xuất "chuyển đổi số" thực chất chỉ là dự án phần mềm?
Hỏi ba câu: sau dự án, quy trình nào bị bỏ hoặc gộp lại; quyết định nào được ra khác đi và bởi ai; chỉ số kinh doanh nào sẽ thay đổi, thay đổi bao nhiêu. Nếu đề xuất chỉ trả lời được bằng tính năng phần mềm và tiến độ cài đặt, đó là dự án số hoá quy trình, vẫn có thể đáng làm nhưng nên gọi đúng tên.
Nghịch lý năng suất Solow có còn đúng với AI hiện nay không?
Đây là câu hỏi đang được nghiên cứu. Một số thí nghiệm ở cấp công việc cho thấy AI tạo sinh tăng năng suất rõ trong vài nhiệm vụ cụ thể, nhưng tác động lên năng suất toàn nền kinh tế phụ thuộc vào việc doanh nghiệp tổ chức lại quy trình nhanh đến đâu. Kinh nghiệm với điện khí hoá và máy tính cho thấy độ trễ có thể kéo dài hàng chục năm.