TrungTamPhatTrien.comTrung Tâm Phát Triển
Phát triển nguồn nhân lực

Dân số vàng là gì? Cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam và điều kiện hưởng lợi tức dân số

Dân số vàng là giai đoạn người trong tuổi lao động đông gấp đôi người phụ thuộc. Bài giải thích cơ chế lợi tức dân số, bài học Đông Á và điều kiện để Việt Nam không lỡ.

Aerial wide view of a busy Vietnamese industrial park at shift change, streams of workers on motorbikes flowing along tree-lined roads, early morning haze, soft green and silver palette

Dân số vàng (cơ cấu dân số vàng) là giai đoạn số người trong độ tuổi lao động, thường tính từ 15 đến 64 tuổi, đông ít nhất gấp đôi số người phụ thuộc gồm trẻ em dưới 15 tuổi và người từ 65 tuổi trở lên; nói cách khác, tỷ số phụ thuộc chung dưới 50%. Đây là một giai đoạn tạm thời của quá trình quá độ dân số, khi mức sinh đã giảm nhưng dân số chưa già đi nhiều.

Theo Tổng cục Thống kê (nay thuộc Bộ Tài chính), Việt Nam bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng từ khoảng năm 2007, và các dự báo thường đặt mốc kết thúc vào khoảng cuối thập niên 2030 hoặc đầu thập niên 2040. Điều cốt lõi cần hiểu: dân số vàng chỉ là cơ hội. Lợi tức dân số không tự đến; nó chỉ hiện thực hoá khi số người trong tuổi lao động có việc làm năng suất.

Phần dưới giải thích cơ chế tạo ra lợi tức dân số, bằng chứng từ Đông Á, phân biệt lợi tức thứ nhất và thứ hai, các điều kiện cần, và những điểm nghẽn của Việt Nam.

Quá độ dân số và cửa sổ cơ hội

Lý thuyết quá độ dân số mô tả hành trình của hầu hết các xã hội từ trạng thái sinh nhiều chết nhiều sang sinh ít chết ít. Tỷ lệ tử vong, nhất là tử vong trẻ em, giảm trước nhờ y tế, dinh dưỡng, vệ sinh; mức sinh giảm sau, với độ trễ vài thập kỷ. Trong khoảng trễ đó dân số tăng nhanh và rất trẻ, tạo ra một thế hệ đông đảo.

Khi mức sinh bắt đầu giảm mạnh, thế hệ đông đảo ấy lớn lên và bước vào tuổi lao động, trong khi số trẻ em mới sinh ít hơn và người già chưa nhiều. Tỷ số phụ thuộc giảm xuống thấp nhất trong lịch sử của quốc gia đó: đây là "cửa sổ nhân khẩu học". Vài thập kỷ sau, chính thế hệ ấy về già, tỷ số phụ thuộc tăng trở lại và cửa sổ đóng.

Cửa sổ này chỉ mở một lần với mỗi quốc gia. Độ dài của nó phụ thuộc tốc độ giảm sinh: nước giảm sinh càng nhanh thì cửa sổ càng sâu nhưng càng ngắn, và sau đó già hoá càng nhanh. Việt Nam thuộc nhóm giảm sinh nhanh: tổng tỷ suất sinh giảm từ mức khoảng năm đến sáu con mỗi phụ nữ trong thập niên 1970 xuống quanh mức sinh thay thế từ đầu những năm 2000, và gần đây xuống dưới mức thay thế.

Đọc số liệu dân số vàng: ba chỉ báo và một phép tính

Khi gặp các phát biểu về dân số vàng, bạn nên tách ba chỉ báo hay bị gộp làm một. Tỷ số phụ thuộc chung là số người dưới 15 tuổi cộng số người từ 65 tuổi trở lên, chia cho số người 15–64 tuổi. Tỷ số phụ thuộc trẻ và tỷ số phụ thuộc già là hai thành phần của nó. Trong giai đoạn đầu của dân số vàng, tỷ số chung giảm chủ yếu vì phụ thuộc trẻ giảm; về cuối, tỷ số chung có thể vẫn dưới 50% nhưng thành phần già đã tăng nhanh. Hai tình huống có cùng con số tổng nhưng hàm ý chính sách khác hẳn: một bên cần trường học và việc làm cho người trẻ, bên kia cần lương hưu và chăm sóc người cao tuổi.

Phép tính sau cho thấy vì sao "tỷ lệ người trong tuổi lao động" chưa nói hết câu chuyện. Ví dụ giả định: một tỉnh có 1 triệu dân, 680.000 người 15–64 tuổi, tỷ số phụ thuộc khoảng 47%, đạt chuẩn dân số vàng. Nhưng nếu tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nhóm này là 75% và 5% trong số đó thất nghiệp, số người thật sự có việc chỉ còn khoảng 485.000, tức mỗi người có việc nuôi chừng 2,06 người tính cả bản thân. Nếu thêm một nửa số người có việc làm phi chính thức với năng suất thấp, "lợi tức" về thu nhập còn mỏng hơn nữa.

Vì vậy, khi đánh giá một địa phương hay một ngành có đang hưởng lợi từ cơ cấu tuổi hay không, chỉ báo đáng theo dõi là tỷ lệ việc làm trên dân số, cơ cấu việc làm chính thức và năng suất lao động, chứ không chỉ cơ cấu tuổi. Số liệu chính thức về các chỉ báo này nằm trong điều tra dân số giữa kỳ và điều tra lao động việc làm của cơ quan thống kê.

Lợi tức dân số tạo ra tăng trưởng qua những kênh nào

Kênh lao động. Tỷ lệ người trong tuổi lao động trên tổng dân số tăng, nên với cùng năng suất mỗi người, sản lượng bình quân đầu người tăng. Đây là hiệu ứng số học thuần tuý, nhưng chỉ có khi số người tăng thêm ấy thật sự có việc làm.

Kênh tham gia lao động của phụ nữ. Ít con hơn đồng nghĩa với việc phụ nữ có điều kiện đi học lâu hơn và tham gia thị trường lao động nhiều hơn, làm tăng thêm nguồn cung lao động.

Kênh tiết kiệm và đầu tư. Người trong tuổi lao động thường tiết kiệm nhiều hơn để chuẩn bị cho tuổi già. Khi tỷ trọng của họ cao, tiết kiệm quốc gia tăng, cung cấp vốn cho đầu tư.

Kênh vốn con người. Gia đình ít con có thể đầu tư nhiều hơn cho giáo dục và sức khoẻ của mỗi đứa trẻ, chuyển từ "số lượng" sang "chất lượng". Ý tưởng đánh đổi số lượng và chất lượng con cái được Gary Becker và cộng sự phát triển từ thập niên 1960 và 1970.

Bằng chứng từ Đông Á và từ những nơi bỏ lỡ

Nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất là của David Bloom và Jeffrey Williamson, đăng trên World Bank Economic Review năm 1998. Hai tác giả ước tính lợi tức dân số giải thích khoảng một phần tư đến một phần ba mức tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của nhóm nền kinh tế "thần kỳ Đông Á" giai đoạn 1965–1990. Bloom, David Canning và Jaypee Sevilla tổng hợp dòng nghiên cứu này trong chuyên khảo The Demographic Dividend (RAND, 2003).

Điểm then chốt trong kết luận của họ: cấu trúc tuổi thuận lợi chỉ chuyển thành tăng trưởng nhờ môi trường chính sách thuận lợi. Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore có giáo dục phổ cập chất lượng, chiến lược công nghiệp hoá hướng xuất khẩu hấp thụ lao động, và thị trường tài chính huy động tiết kiệm. Cùng giai đoạn, một số nước Mỹ Latinh cũng có tỷ số phụ thuộc giảm nhưng không có mức tăng trưởng tương tự, do bất ổn vĩ mô, giáo dục chất lượng thấp và thị trường lao động không tạo đủ việc làm chính thức.

Mức độ đóng góp chính xác còn được tranh luận. Một số nhà kinh tế cho rằng các ước lượng ban đầu chịu ảnh hưởng của vấn đề nội sinh: tăng trưởng nhanh cũng góp phần làm giảm mức sinh, nên quan hệ nhân quả chạy theo cả hai chiều. Tuy vậy, kết luận rằng cấu trúc tuổi là yếu tố tạo thuận lợi chứ không quyết định thì được chấp nhận khá rộng rãi.

Lợi tức dân số thứ nhất và thứ hai

Andrew Mason và Ronald Lee, trong các công trình đầu thập niên 2000 và dự án Tài khoản chuyển giao quốc dân (National Transfer Accounts), phân biệt hai loại lợi tức với cơ chế và thời điểm khác nhau.

Khía cạnhLợi tức thứ nhấtLợi tức thứ hai
Cơ chếTỷ lệ người làm ra thu nhập trên người tiêu dùng tăngNgười chuẩn bị cho tuổi già tích luỹ tài sản, làm tăng vốn và thu nhập từ vốn
Thời điểmKhi tỷ số phụ thuộc giảm; tự động kết thúc khi dân số giàCó thể kéo dài cả khi dân số đã già
Điều kiệnCó đủ việc làm năng suấtNgười dân tích luỹ tài sản thật, thay vì chỉ dựa vào chuyển giao từ con cái hay hệ thống hưu trí dàn trải
Rủi roThất nghiệp, việc làm phi chính thức năng suất thấpHệ thống hưu trí không bền vững, tiết kiệm thấp, thị trường vốn kém phát triển

Phân biệt này có ý nghĩa chính sách trực tiếp: cửa sổ thứ nhất là lúc để xây những thiết chế cho lợi tức thứ hai, như hệ thống hưu trí bền vững, kênh tiết kiệm an toàn và thị trường vốn lành mạnh. Bỏ lỡ việc này thì khi cửa sổ đóng, quốc gia vừa thiếu lao động vừa thiếu tài sản tích luỹ.

Những điểm nghẽn của Việt Nam

Việt Nam đã tận dụng một phần đáng kể lợi tức dân số qua công nghiệp hoá hướng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ. Nhưng các báo cáo của Ngân hàng Thế giới và các nhà nghiên cứu trong nước thường nêu một số điểm nghẽn:

  • Chất lượng lao động. Theo các điều tra lao động việc làm của cơ quan thống kê những năm gần đây, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ chỉ khoảng hơn một phần tư lực lượng lao động.
  • Năng suất lao động. Năng suất tăng khá đều nhưng mức tuyệt đối vẫn thấp so với các nước đi trước trong khu vực, nhiều lao động còn trong các ngành giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp.
  • Việc làm phi chính thức. Tỷ lệ lao động phi chính thức cao đồng nghĩa với nhiều người không có hợp đồng, không tham gia bảo hiểm xã hội, và sẽ thiếu nguồn thu nhập khi về già.
  • Chênh lệch vùng. Cơ cấu tuổi và mức sinh khác nhau giữa các vùng: một số địa phương miền núi phía Bắc và Tây Nguyên còn mức sinh cao, trong khi TP.HCM và một số tỉnh Đông Nam Bộ có mức sinh rất thấp.
  • Thời gian còn lại. Cửa sổ của Việt Nam ngắn hơn của các nước đi trước vì mức sinh giảm nhanh, trong khi thu nhập bình quân còn ở mức trung bình. Nguy cơ "già trước khi giàu" vì vậy được nhắc tới thường xuyên.

Hàm ý cho doanh nghiệp và nhà quản lý nhân sự

Với doanh nghiệp, giai đoạn cuối của dân số vàng thể hiện qua những tín hiệu cụ thể. Nguồn lao động trẻ dồi dào, giá rẻ mà nhiều nhà máy ở các khu công nghiệp phía Bắc và Đông Nam Bộ từng dựa vào bắt đầu khan hiếm dần; tuổi bình quân của công nhân tăng; cạnh tranh tuyển dụng ở nhóm tuổi 18–25 gay gắt hơn. Chiến lược dựa trên chi phí lao động thấp sẽ ngày càng khó duy trì.

Phản ứng hợp lý gồm ba hướng. Thứ nhất, đầu tư vào năng suất mỗi lao động: cải tiến quy trình, tự động hoá phần việc lặp lại, đào tạo kỹ năng để người lao động vận hành thiết bị phức tạp hơn. Thứ hai, mở rộng nguồn tuyển sang các nhóm trước đây ít được chú ý, như lao động trung niên, phụ nữ quay lại thị trường sau sinh con, người lao động ở các tỉnh xa với chính sách nhà ở phù hợp. Thứ ba, giữ chân người có kinh nghiệm bằng lộ trình nghề nghiệp rõ ràng thay vì chấp nhận tỷ lệ nghỉ việc cao như chi phí tất yếu.

Ở góc độ vĩ mô, giai đoạn còn lại của cửa sổ là lúc các chính sách về giáo dục nghề nghiệp, mở rộng bảo hiểm xã hội và hiện đại hoá hệ thống lương hưu mang lại tác động lớn nhất. Mỗi năm trì hoãn làm chi phí điều chỉnh về sau cao hơn.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao ngưỡng tỷ số phụ thuộc 50% được dùng để xác định dân số vàng?

Ngưỡng 50%, tương đương hai người trong tuổi lao động trên một người phụ thuộc, là quy ước thống kê được nhiều cơ quan dân số dùng, không phải một ngưỡng kinh tế có tính quy luật. Một số tài liệu dùng tiêu chí khác, như tỷ lệ trẻ em dưới 30% và người cao tuổi dưới 15% dân số, nên mốc bắt đầu và kết thúc có thể lệch vài năm.

Tỷ số phụ thuộc theo tuổi có phản ánh đúng gánh nặng kinh tế không?

Không hoàn toàn. Nhiều người 15–24 tuổi còn đi học, nhiều người trên 65 tuổi vẫn làm việc, và người trong tuổi lao động có thể thất nghiệp. Vì vậy các nhà kinh tế dùng thêm tỷ số phụ thuộc kinh tế, so sánh số người tiêu dùng với số người thực sự tạo ra thu nhập, như cách tiếp cận của dự án Tài khoản chuyển giao quốc dân.

Tăng mức sinh có kéo dài được thời kỳ dân số vàng không?

Trong ngắn hạn, tăng mức sinh thực ra làm tăng tỷ số phụ thuộc vì thêm trẻ em. Chỉ sau khoảng mười lăm đến hai mươi năm, khi lứa trẻ đó vào tuổi lao động, tác động mới đảo chiều. Do đó chính sách dân số tác động chậm và không thay thế được chính sách nâng năng suất.

Di cư lao động ra nước ngoài ảnh hưởng thế nào tới lợi tức dân số?

Xuất khẩu lao động giảm áp lực việc làm trong nước và mang về kiều hối, nhưng cũng làm mất một phần lao động trẻ có kỹ năng ở một số ngành. Tác động ròng phụ thuộc vào việc người lao động có quay về với kỹ năng, vốn và kinh nghiệm được sử dụng hiệu quả trong nước hay không.

Trung Quốc và Thái Lan có bài học gì về kết thúc dân số vàng?

Cả hai được nhiều nhà nghiên cứu nêu là ví dụ về quốc gia có dân số già đi khi thu nhập bình quân chưa đạt mức cao, khiến áp lực lên hệ thống hưu trí, y tế và thị trường lao động đến sớm. Bài học chung là cần chuẩn bị chính sách an sinh và năng suất trước khi cửa sổ đóng, không phải sau.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.